Trường THPT Ngô Quyền tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác quản trị, công tác dạy và học trong nhà trường để xây dựng “Trường học thông minh” và Xã hội học tập mới góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn hiện nay

Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản trị, công tác dạy và học trong Nhà trường góp phần thúc đẩy chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết, nhằm mục tiêu nâng cao hơn nữa chất lượng và hiệu quả của hoạt động phát triển Nhà trường trong bối cảnh mới. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động tại các cơ sở giáo dục hiện nay được xem như một phương tiện hữu ích và hiệu quả, nhằm tăng cường nội lực, tính chủ động của đơn vị, góp phần hiện đại hóa giáo dục - đào tạo, đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh

* Mục tiêu

Tạo ra động lực để thúc đẩy chuyển đổi số trở nên mạnh mẽ hơn; tạo cơ hội và động lực để cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh thích ứng, áp dụng phương thức quản lý, phương pháp dạy học trực tuyến. trong quá trình chuyển dổi, số hóa thông tin quản lý, tạo ra những hệ thống CSDL lớn liên thông để quản lý, điều hành, dự báo, hỗ trợ ra quyết định trong quản trị một cách nhanh chóng, chính xác.

Đẩy mạnh quá trình số hóa học liệu trong dạy, học, kiểm tra, đánh giá (sách giáo khoa điện tử, bài giảng điện tử, kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm), thư viện số, phòng thí nghiệm ảo phục vụ cho công tác dạy và học.

* Nhiệm vụ, biện pháp

Tăng cường ứng dụng CNTT trên các nền tảng có sẵn trong công tác quản trị nhà trường

Tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên về yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin trong quản trị, điều hành, đổi mới nội dung, phương pháp dạy - học, kiểm tra, đánh giá trong đó có vai trò của chuyển đổi số đối với việc học tập suốt đời và xây dựng xã hội học tập. Tiếp tục triển khai mô hình ứng dụng CNTT theo hướng dẫn số 5807/BGDĐT-CNTT của Bộ giáo dục và Đào tạo.  Triển khai lộ trình xây dựng trường học điện tử, lớp học điện tử với các giải pháp giáo dục thông minh.

Thành lập bộ phận phụ trách CNTT, xây dựng quy chế sử dụng các thiết bị CNTT, đường truyền Internet trong nhà trường. Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng khai thác thông tin - Thư viện điện tử, các phần mềm do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp như phần mềm SMAS, PEMIS, … để phục vụ công tác điều hành và quản lí giáo dục (quản lý nhân sự, quản lý CSVC thiết bị, quản lý học sinh, quản lý điểm, xếp TKB, quản lý tài chính, quản lí dạy học và nhiều công việc khác).  

Sử dụng có hiệu quả và triệt để tất cả các tính năng trên phần mềm Cổng thông tin tích hợp ngành giáo dục Quảng Ninh tại địa chỉ http://qlth.quangninh.edu.vn/ và phần mềm CSDL của ngành giáo dục tại địa chỉ csdl.moet.gov. Tiếp tục sử dụng có hiệu quả hệ thống quản lý hành chính điện tử (e-office), liên thông trao đổi văn bản điện tử giữa Nhà trường và sở GDĐT và với các cơ sở giáo dục khác.

Đẩy mạnh sử dụng sổ điểm điện tử, học bạ điện tử; triển khai ứng dụng CNTT kết nối, tương tác, trao đổi thông tin giữa phụ huynh với nhà trường, tăng cường áp dụng các giải pháp trao đổi thông tin miễn phí như tin nhắn OTT (FacebookInstagramZalo,..) email, ứng dụng trên thiết bị di động và website nhà trường; Cập nhật thông tin và các hoạt động của nhà trường thường xuyên, liên tục, kịp thời trên website, fanpage để quảng bá về nhà trường. Thực hiện lộ trình thanh toán học phí cũng như các khoản thu theo quy định khác không dùng tiền mặt.

Fanpage của trường THPT Ngô Quyền

Lựa chọn các giải pháp phần mềm dạy học trực tuyến (dạy học trực tuyến đồng bộ, dạy học trực tuyến không đồng bộ), phần mềm kiểm tra đánh giá, phần mềm kho học liệu số, phần mềm thư viện số theo hướng tổng thể, đồng bộ, kết nối trao đổi dữ liệu với phần mềm quản lý trường học theo mã định danh, phục vụ có hiệu quả việc tổ chức và quản lý được các hoạt động dạy học trực tuyến.

Lập kế hoạch đầu tư một số phần mềm quản lý đồng bộ, chuyên nghiệp, có tính liên thông giữa các phần mềm nhỏ với nhau. Phần mềm định dạng học sinh, điểm danh học sinh, chấm công cán bộ, giáo viên, nhân viên bằng mã Code, mã vạch, vân tay… hoặc điểm danh bằng khuôn mặt, máy đo thân nhiệt… Thiết bị được lắp đặt tại các cửa lớp, cổng trường hoặc hành lang chính.

Xây dựng kế hoạch huy động các nguồn lực trang bị cho Nhà trường một hệ thống CSDL riêng (BigData) kết nối với những nền tảng công nghệ có sẵn, lưu trữ tất cả các thông tin phục vụ cho công tác quản lý giáo dục, công tác dạy và học của nhà trường, tạo lộ trình cho việc xây dựng “Trường học thông minh” -  ở đó vận dụng linh hoạt, hiệu quả các nguồn lực trên nền tảng ứng dụng công nghệ số nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo.

Tăng cường sử dụng các các phần mềm hiệu quả trên nền tảng công nghệ để thực hiện các cuộc họp, hội nghị trực tuyến, tập huấn, trao đổi, giao lưu chuyên môn và bồi dưỡng giáo viên, cán bộ cốt cán.

Bố trí kinh phí cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng mạng, hệ thống đường điện cho Nhà trường, đảm bảo đầy đủ trang thiết bị phục vụ quản lý hạ tầng như máy chủ quản lý tập trung, cân bằng tải…

* Tăng cường ứng dụng CNTT trong công tác dạy và học, kiểm tra đánh giá.

Thúc đẩy phong trào tự học, tự nghiên cứu trong đội ngũ giáo viên nhằm nâng cao kỹ năng CNTT ứng dụng vào đổi mới phương pháp giảng dạy. Tổ chức nghiên cứu, tích hợp các phần mềm do Bộ Giáo dục và Đào tạo cung cấp như e - Learning, bố trí kinh phí trang bị các phần mềm mới cho giáo viên để nâng cao hiệu quả dạy học.

Tích cực sử dụng các phòng học thông minh có hệ thống bảng tương tác, thường xuyên dự giờ tổ chức rút kinh nghiệm kịp thời về việc sử dụng các thiết bị phòng học thông minh.

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT hỗ trợ đổi mới nội dung, phương pháp dạy, học, thi và kiểm tra đánh giá trong tất cả các môn học; triển khai phương thức dạy học trực tuyến triển khai các giải pháp ứng dụng CNTT trong kiểm tra, đánh giá, xây dựng lộ trình thi thử, kiểm tra trên máy tính thông qua việc xây dựng ngân hàng câu hỏi, phần mềm khảo thí và các điều kiện triển khai.

 

 

Học sinh ứng dụng CNTT trong học tập

Phối hợp với các nhà mạng, cung cấp tài khoản miễn phí cho học, triển khai việc tham gia thực hiện các nhiệm vụ học tập trong các bài học do giáo viên tổ chức;  Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ được giao, học sinh có thể tham khảo các tài liệu điện tử trên mạng; trao đổi tài liệu và thảo luận với các thành viên trong tổ, nhóm, lớp học; trao đổi với giáo viên về những vấn đề có liên quan đến nội dung các khóa học/bài học trên mạng. Tổ chức nộp các bài tập, dự án học tập, sản phẩm dự thi…trực tuyến.

Chỉ đạo các tổ chuyên môn, giáo viên tích cực xây dựng học liệu dạy học trực tuyến, chú trọng xây dựng bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trực tuyến, tư liệu 3D, thí nghiệm ảo, phần mềm mô phỏng, sách điện tử tương tác… đóng góp vào kho bài giảng e-learning, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm trực tuyến của sở GDĐT

Tăng cường vai trò của các tổ chuyên môn trong Nhà trường giúp hiệu trưởng đánh giá nội dung học liệu số trước khi đưa vào sử dụng; rà soát, đánh giá, hoàn thiện các mô hình, giải pháp, phương pháp ứng dụng công nghệ thông tin đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, đặc biệt là dạy học trực tuyến đảm bảo hiệu quả, phù hợp với điều kiện ở địa phương.

Học sinh ứng dụng CNTT trong các hoạt động giáo dục khác

Trong quá trình triển khai ứng dụng CNTT, Nhà trường cần thường xuyên rà soát, khắc phục các nguy cơ mất an toàn, an ninh thông tin; phải có biện pháp đặc biệt đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cá nhân (học sinh, giáo viên, nhân viên, cán bộ quản lý giáo dục) và các thông tin quan trọng khác. Đẩy mạnh tuyên truyền tới toàn thể cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh kỹ năng nhận biết, phòng tránh các nguy cơ mất an toàn thông tin đối với các thiết bị cá nhân như điện thoại thông minh, máy tính bảng, máy tính cá nhân. Việc triển khai ứng dụng CNTT phải đi đôi với việc đảm bảo an toàn, an ninh thông tin cho từng thành phần ứng dụng được triển khai.

Trong thời gian diễn ra dịch bệnh COVID-19 và học sinh phải tạm dừng đến trường, cần quan tâm hỗ trợ các đối tượng học sinh có hoàn cảnh khó khăn, đảm bảo 100% học sinh được tiếp cận với việc học trực tuyến, không để học sinh nào không được học do thiếu thiết bị công nghệ hoặc đường truyền vì hoàn cảnh khó khăn. 

Tác giả: Đặng Thị Thu Minh
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 5
Hôm qua : 129
Tháng 12 : 133
Năm 2022 : 36.980